VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ TÌNH HÌNH GIÁO XỨ AN LẠC NHỮNG NGÀY ĐẦU THÁNG 6 / 2009.

Phêrô Nguyễn Tunấ Hoan

(Gửi anh Hiệp, tân tòng, thư ký giáo họ An Hoà)

1.- Lá thơ thứ nhất: An Lạc, ngày 9 -6-2009



Anh Hiệp thân mến,

Mấy hôm nay tôi nghe người này người kia nói giáo họ An Hoà đang gặp chuyện rắc rối. Hỏi ra mới biết được rằng việc rắc rối này khởi đi từ cái biên bản một phiên họp trong giáo họ cách nay ít ngày, mà nội dung là phê phán cách làm việc thiếu dân chủ và độc đoán của cha sở qua một ông chánh trương thiếu khả năng và chỉ theo lệnh trên chỉ đâu đánh đó. Tôi nghĩ việc này chẳng liên quan gì đến mình, mình chẳng là cái đinh gì trong giáo xứ, và nói về những công việc của cái gọi là “hội đồng mục vụ” thì mình dốt đặc, mình chẳng để tâm đến làm chi. Sau lại nghĩ rằng anh Hiệp và tôi tuy mới quen biết nhau, có những khác biệt về tuổi tác, nghề nghiệp, lại cũng chẳng gặp nhau nhiều, nhưng qua những lần tiếp xúc tôi mới biết anh tuy là một tân tòng, anh lại có những suy nghĩ rất trưởng thành về đức tin và hiểu được những tương quan trong Hội Thánh, anh cũng biểu lộ tính cách thẳng thắn, thành thật, không thích nịnh hót, không muốn nhận những chức vụ vượt quá khả năng của mình. Khi biết anh nhận chức thư ký của giáo họ, tôi cũng hơi ngạc nhiên, nhưng chắc anh còn nhớ hồi đó tôi có nói với anh rằng, mình có thể làm được điều gì có ích cho cộng đoàn thì cứ làm, nhưng đừng để bị mất đi bản chất của mình, tôi cũng chúc anh tìm được niềm vui trong việc phục vụ này. Thấm thoát cũng cả nửa năm hơn, nay biết anh gặp một chuyện phiền phức, tôi muốn gửi đến anh những lời chia sẻ này. Tôi xem anh như một người bạn cũng được, như một người em cũng được, không cần câu nệ, nhưng lý do mạnh nhất khiến tôi muốn tâm sự với anh là tôi rất quý trọng những anh chị em dự tòng cũng như tân tòng. Tôi gắn bó với lãnh vực giáo lý cho dự tòng từ 30 năm nay, dĩ nhiên tôi chẳng ở trong một ban bệ nào vì nó chỉ là hư danh mà thôi.

Anh Hiệp à! Tôi nghe rằng anh đã “được” cha sở gọi vào làm việc phải không? Theo cha thì biên bản này hoàn toàn do anh bịa đặt, có ba bốn vị trong buổi họp cũng được triệu tập để đối chất, đa số đều chối hoặc trả lời quanh co về những gì đã phát biểu trong phiên họp. Thái độ của những vị này thật đáng buồn, và anh đã thẳng thắn đưa ra những câu hỏi khiến một vài vị phải nhận. Thật ra, trước khi anh đến, những vị này đã bị cha sở chơi đòn phủ đầu rồi, là một tân tòng, nên anh chưa hiểu là đại đa số giáo dân khi đến với các linh mục (chưa nói đến giám mục) là luôn mang tâm trạng sợ hãi, chỉ cần thấy mặt ông cha hầm hầm là đã sợ vãi cả ra quần rồi, làm sao dám nhận những gì mình nói, dù biết vậy là hèn, con cháu sẽ xấu hổ có người ông, người bà không dám nhận những gì đã nói, đã làm.

Ấy vậy mà sau lưng cha sở thì nói mạnh ra phết, coi cha sở chẳng vào đâu, kể đủ thứ chuyện về cha sở như thể chính mắt mình thấy. Tôi cũng nghe rằng hôm ấy, cha sở xem anh như một kẻ chống đối và rất hằn học với anh phải không?

Trái lại ngài lại vuốt ve khen ngợi cái người đã chối điều mình nói và mau mắn tấu trình một ý kiến đẹp ý ngài. Thật là một trò hề rẻ tiền! Điều này chẳng lạ đâu anh Hiệp ạ! Anh đừng bận tâm và đừng nản lòng tin, Hội Thánh vẫn luôn luôn thánh thiện cho dù có nhiều linh mục, tu sĩ bất xứng. Hội Thánh là của chúng ta, là của mọi người, không có ông linh mục nào là độc quyền về Hội Thánh. Mình vẫn luôn yêu mến và trung thành với Hội Thánh, với Chúa Giê-su, bởi vì cùng đích của chúng ta là ơn cứu độ, là cuộc sống hạnh phúc đời đời. Là giám mục, là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, thậm chí một anh chị hốt rác cũng chỉ vào thiên đàng bằng một cửa duy nhất, vì thiên đàng không có cửa hông, lại càng không có cửa hậu. Tôi rất ghét những kẻ huênh hoang cho mình là thay mặt Đức Chúa Trời để nạt nộ bức hiếp những người nhút nhát yếu bóng vía. Hồi xưa Chúa Giê-su đã nhiều lần chỉ vào mặt những ông kinh sư, biệt phái, là tầng lớp lãnh đạo dân Chúa mà mắng họ là những kẻ giả hình, bóc lột các bà goá, nuốt hết tài sản của họ ( không biết thời đó mấy bà goá có được cái bằng ân nhân nào không?), làm gương mù gương xấu, mặc y phục lộng lẫy, áo xanh áo đỏ để che cái xấu xa bên trong, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt giáo dân, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác ...(x. Mt 23,13-31). Có lần Chúa còn nói với họ rằng: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông..”.

Tôi kể cho anh câu chuyện vui đọc trong cuốn “Đạo Kười”: Trên đường đến nhà thờ làm lễ cưới, đôi cô dâu chú rể chẳng may bị tai nạn giao thông chết cả đôi, khi tới cửa thiên đàng, cả hai tha thiết xin Thánh Phê-rô mời một cha để giúp họ hoàn tất tâm nguyện được cưới nhau trước khi vào thiên đàng. Thánh Phê-rô đồng ý bảo chờ một lát.

Ngờ đâu cả mấy giờ sau, Thánh Phê-rô trở ra nói với hai người rằng ta đã mở hết mấy cuốn sổ danh sách những người đã vào thiên đàng mà không tìm thấy tên một linh mục nào! Xin hai con thông cảm!

Tôi khen anh can đảm, không khiếp nhược mà cũng không hỗn láo, ước gì người giáo dân nào cũng như vậy thì Giáo Hội mới khá được. Nếu các linh mục biết sống đúng tinh thần Tin Mừng, đối xử nhân hậu với bổn đạo, biết lắng nghe những ý kiến đứng đắn của giáo dân như tinh thần của sắc lệnh “Về chức vụ và đời sống linh mục” trong mục Tương quan giữa linh mục và giáo dân,( số 9), thì giáo dân mới có thể ý thức rằng mình có trách nhiệm đối với các linh mục của mình, và phải lấy lòng hiếu thảo mà đối xử với các ngài như những chủ chiên và như là cha mình vậy (số 9). Được như vậy Giáo Hội mới là chứng tá cho Chúa Giê-su. Ngược lại, nếu cha không ra cha, coi con cái như kẻ thù, dùng những thủ đoạn ma mãnh, dối trên lừa dưới, chỉ muốn diệt tận gốc những kẻ không ủng hộ mình, thì làm sao con cái nó phục, làm sao nó yêu mến. Chỉ những kẻ ngu muội, đánh mất bản thân của mình để kiếm chác chút hư danh rẻ tiền mới khom lưng cúi gối mà thôi!

Thời nay cũng đỡ nhiều, các cha chỉ hầm hầm quát tháo, chứ thời xưa có cha sở còn cầm cây rượt ông trùm chạy quanh nhà thờ. Một cha dòng lớn tuổi kể rằng có một cha sở rất hách dịch và nóng nảy, một hôm túm cổ một ông trùm giơ gậy để đánh. Anh này đã nhiều lần bị đòn rồi, nên rất ức, lần này anh ta không nhịn nữa, cha sở chưa kịp đánh, anh nắm vào chỗ hiểm của cha sở bóp mạnh, ông cha đau quá quát tướng lên: " à thằng này láo dám đánh cha hả, tao sẽ rút phép thông công và không cho mày làm trùm nữa! Anh này nghe nói sợ quá phải buông ra và phân bua với cha sở: “Bẩm lạy cha, con đâu có dám đánh cha đâu, con chỉ bóp ch... cha thôi mà!.

Sáng Chúa Nhật vừa qua, tôi và vài người bạn đang ngồi uống cafe thì có ông cựu chánh trương đến nói là chào anh em để ít ngày nữa lên đường định cư ở nước ngoài, ông cho biết mới vào chào cha sở, ngài than thở với ông là mới được yên chừng một năm nay, giờ lại điên đầu vì chuyện của họ An Hoà. Tôi liền nói: theo em thì cha Thịnh chẳng có giây phút nào yên, ngài không hề có sự bằng an trong tâm hồn, căn cứ vào đâu mà em dám nói vậy. Xin thưa: dựa trên câu Lời Chúa trong sách Thánh vịnh: “Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người?

Đó là kẻ tay sạch lòng thanh ...Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành”...(Tv 23,3-4.5). Thế mà ngoài vài giờ “làm lễ”, ngài dùng hết thời giờ còn lại để đếm tiền và tìm cách đối phó với những thành phần mà ngài cho là có ý chống đối .

Thử hỏi, tay sạch thế nào được nếu suốt ngày mó vào tiền; lòng thanh làm sao được khi chất chứa sự bực tức, lúc nào cũng tìm hiểu xem trong giáo xứ có bao nhiêu phần trăm ủng hộ mình, bao nhiêu phần trăm chống đối mình, rồi lên danh sách và dò hỏi xem ai đứng sau giật dây ... lại sợ cả những kẻ tay chân của mình, không biết nó phản lúc nào, vì lúc nào cũng có kẻ ăn bánh của ta lại giơ gót đạp ta. Cuộc sống của ngài đã lãng phí quá nhiều thời giờ vào hai vấn đề trên thì làm sao chu toàn trách nhiệm mục tử, bảo sao ngài ít đi kẻ liệt, hiếm khi ngồi toà, tránh tối đa việc đi làm lễ an táng tại tư gia, .

Tóm lại, với lối suy nghĩ và cách sống của ngài đã huỷ diệt sức sống phong phú của một linh mục được đào tạo rất chính quy, đã gặm nhấm cuộc đời ngài, làm sao ngài sống bình an được. Nếu một linh mục biết gắn cuộc đời mình với công việc mục vụ, chỉ tha thiết với một điều duy nhất làm cho mọi thành phần dân Chúa đạt đến ơn cứu độ. Chủ chiên phải dám tiêu hao chính mình để làm ích cho phần rỗi của con chiên, chứ không tìm ích lợi cho riêng mình. Chủ chiên phải tạo được nhịp cầu thông cảm với mọi thành phần dân Chúa, không coi ai là đồ bỏ, là hết xài. Có như thế thì sau những giờ lao nhọc với công việc mới có thể đọc lên lời Thánh vịnh của giờ kinh Tối thứ Bảy: “Chúa ban xuống lòng con nhiều hoan lạc hơn khi thiên hạ được mùa lúa rượu đầy dư. Thư thái bình an vừa nằm con đã ngủ, vì chỉ có mình Ngài, lạy Chúa, ban cho con được sống yên hàn” (Tv4,8-9). Và đến cuối cuộc đời, mới có thể thanh thản mà hát lên lời Nunc dimittis: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ này được an bình ra đi, vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ”(Lc 2,29-30).

Phải chi cha sở của chúng ta biết lắng nghe người khác góp ý, đây là tôi tưởng tượng thôi, chứ có cha sở nào lại thèm nghe con chiên, nhất là con chiên “lạc”, chiên gầy ốm, ít lông, ít sữa. Hoặc giả như những người thân cận với ngài, đàn ông có, đàn bà có, tu sĩ có, kẻ nửa tăng nửa tục cũng có. Nếu họ lựa dịp tâm sự góp ý với ngài thì hay biết mấy, có thể một lần không kết quả thì nhiều lần: mưa lâu thấm đất. Nhưng đây cũng chỉ là tưởng tượng mà thôi! Ai dại gì mà góp ý để bị trù dập, trái lại, được ngài bố thí cho một công việc là mừng rồi, và phải luôn làm đẹp lòng cha sở, ngài làm gì cũng đúng cũng hay, ví như trong cuốn 1 phim, có anh chỉ đóng vai cái bang, mặc áo rách mang bị gậy, có anh đóng vai tên lính quèn, xuất hiện một thoáng cho vai khác đâm một nhát chết tươi, cũng vẫn thấy hãnh diện, ra ngoài cũng vênh váo khoe tớ là một tài tử đóng phim đây! Và luôn miệng khen ông chủ tốt bụng, tài giỏi dù cuốn phim chẳng ra gì.

Trong kho tàng cổ tích VN có câu chuyện thế này: “Một ông phú hộ đi đâu cũng đem theo một tên hầu, tên này rất trung thành với chủ, lúc nào cũng tâng bốc chủ, chủ làm đúng hay sai, hay hoặc dở nó đều ca tụng bốc thơm, ông chủ rất hài lòng. Một hôm, ông phú hộ đến nhà một người bạn để đánh bài. Đang chơi ông bị đầy hơi nên trung tiện mà không kịp nín, vừa phát tiếng kêu vừa bay mùi. Ông hơi ngượng nhưng nếu cứ im lặng thì chẳng sao. Ai dè tên đầy tớ quơ tay vào không khí rồi đưa tay vào mũi hít lấy hít để và nói : thơm quá! Mọi người cười ồ khiến ông phú hộ ngượng đỏ cả mặt. Ông quay qua quát: mày ngu quá, không có ai đánh d...lại thơm bao giờ. Tên đầy tớ lại vội quơ tay vào không khí rồi đưa lên mũi và nói: thưa ông, bây giờ nó lại thối rồi ạ!”.

Kể ra ông phú hộ cũng còn chút liêm sỉ, dám nhận ra cái hay cái dở chứ trong thực tế nhiều kẻ chỉ thích được tung hô, khen ngợi, dù những lời khen rất giả dối, phóng đại hoặc hoàn toàn khách sáo. Có lần tôi đi dự một đám cưới tổ chức trong hoa viên một giáo xứ, phòng tiệc cách phòng cha sở chừng hơn 10 mét, thực khách đã ngồi chật mà chưa khai tiệc, vì phải chờ cha sở. Khi cha vào mọi người vỗ tay (mừng vì sắp được ăn), người dẫn chương trình giới thiệu và cám ơn cha đã thương, hy sinh thời giờ, dời gót sắt đến dự tiệc với chúng con. Tôi thấy thật giả dối, để mọi người chờ là một điều bất lịch sự, lẽ ra phải xin lỗi. Đàng này lại cho việc đến trễ là “nét đẹp truyền thống” nên cha cứ cười toe toét khoái chí!


Anh Hiệp thân mến, tôi còn nghe người ta bảo với nhau là ở họ An Hoà có một anh tân tòng quậy cha sở. Thật ra chẳng biết anh tân tòng quậy cha sở hay cha sở quậy anh tân tòng, chỉ biết rẳng cứ như ông bà ta thường nói: “Bụt trên toà, gà nào mổ mắt”, chỉ tại bụt không chịu ngồi yên trên toà lại tụt xuống trêu chọc gà thì nó mới mổ đại để tự vệ thôi. Anh Hiệp không nên buồn và mặc cảm mình là tân tòng, anh mở Tin Mừng Mát-thêu chương 20, đọc dụ ngôn Những người thợ làm vườn nho anh sẽ thấy an tâm. Anh chính là người thợ được gọi vào lúc xế chiều. Chỉ vì anh được lãnh công bằng với những kẻ vào từ sáng sớm nên anh bị bắt nạt, là phải lắm rồi. Như vậy anh mới thấy Chúa công bằng và giàu lòng thương, anh cố gắng giữ niềm tin và đừng làm gì trái với lương tâm là tốt rồi. Còn ai nói gì mặc kệ.

Hơn nữa, giả như Đức Giáo Hoàng mà sơ ý làm điều gì sai thì ngay anh tân tòng cũng có thể nhắc nhở ngài, anh đừng vội cho là tôi phóng đại nhé, anh mở thư Ga-lát mà xem: Thánh Phê-rô là Giáo Hoàng đầu tiên của Hội Thánh Công Giáo, Thánh Phao-lô lúc đầu là một hung thần bắt đạo, bị Chúa Giê-su đánh cho một chưởng (chắc phải là giáng long thập bát chưởng) té từ trên “ngựa” xuống, sau khi hồi phục công lực mới tỉnh ngộ bèn ghi tên học giáo lý dự tòng, mãn khoá được rửa tội và trở nên một tông đồ thượng thặng, cóc cần chức tước địa vị, chỉ là anh tân tòng. Ấy vậy mà tại An-ti-ô-khi-a, Giáo Hoàng Phê-rô đang ngồi chung với những người gốc dân ngoại thì Giám mục Gia-cô-bê dẫn phái đoàn đến, Phê-rô thấy nhột nên lảng ra chỗ khác. Thế là anh tân tòng Phao-lô đứng lên cự liền, và cho rằng Giáo Hoàng Phê-rô đã làm một điều đáng trách, không đi đúng theo chân lý Tin Mừng (x.Gl 2,11-14). Dĩ nhiên là Giáo Hoàng Phê-rô đã can đảm nhận lỗi, đó mới là thái độ đáng mến đáng phục, xứng làm thủ lãnh Hội Thánh. Thế kỷ 21 thì làm cha sở hay giám mục còn to hơn cả Chúa Giê-su, bố bảo đứa nào dám góp ý, dù các đấng có phạm lỗi to như con voi cũng phải che đi.

Thư đã dài, mà mình cũng cạn tư tưởng rồi, với lại viết như thế cũng đủ cho thiên hạ chửi rồi, viết nữa chúng cho lên dàn thiêu thì bỏ mẹ, con còn nhỏ dại, vợ chưa thể đi làm, lấy gì nuôi con, nhưng nếu không viết thì lại sợ bị tẩu hoả nhập ma, vì thấy bạn bị ức hiếp quá cũng thấy bức xúc mà cho bứt nút luôn, nghe bà xã anh than rằng anh lo lắng trằn trọc mấy ngày qua, mất ngủ mà sáng lại phải đi làm ở xa, tôi cũng thấy ái ngại cho anh. Mong anh bình tĩnh lại, cầu nguyện và phó thác cho Chúa. Vả lại có quái gì phải sợ, chẳng có ai dám ăn thịt anh đâu, trừ khi anh đang sống ở Phi Châu mới sợ mọi ăn thịt người.

Chào anh.



2.- Lá thơ thứ hai: An Lạc ngày 23-6-2009,



Anh Hiệp thân mến,

Cám ơn anh đã gửi cho tôi những văn bản liên quan đến chuyện giáo họ An Hoà. Tôi đọc một lèo từ những biên bản phiên họp cho đến những lá thư của những viên chức đã và đang làm việc trong giáo xứ. Đọc xong tôi hiểu thì ra họ An Hoà có viết một bản kiến nghị gửi cho ông Thuỵ, yêu cầu xét lại lề lối làm việc của ông và một vài đề nghị…rồi trao cho 4 ông trùm của 4 giáo họ ký tên. Nhưng vì ông này lại do cha Thịnh tự ý chỉ định làm chánh trương, chính vì thế đụng đến ông này là đụng đến cha Thịnh. Các anh đã quên câu ông bà mình vẫn chả nói “đánh chó ngó chúa” đấy hay sao. Vì thế cha Thịnh đã gọi mấy ông này vào tẩy não và sau đó các ông đã mau mắn viết bản tự kiểm, nhận mình trót dại lần đầu, lỡ ký vào bản kiến nghị , xin cha thương đừng lấy lại cái ghế mà cha đã ban cho chúng con kẻo tội nghiệp. Chẳng những viết riêng mỗi người một bản, lại có một bản viết chung và cả 3 ông đồng ký vào bản nhận tội, quả thật là chu đáo! dĩ nhiên là không có giáo họ An Hoà, bởi vì cha Thịnh đã đem An Hoà vào nơi tranh chấp , đã cô lập An Hoà rồi!

Sau khi đọc xong, tôi vừa buồn cười vừa thương hại cha Thịnh. Mấy hôm trước, tôi nghe anh nói là cha Thịnh nhờ ông Dần nào đó nhắn với ông Nguyên rằng cha muốn gặp riêng ông Nguyên (không phải cha Thịnh trực tiếp nhắn mà do bà Nguyệt, cộng sự đắc lực của cha Thịnh !). Tôi cảm thấy việc này có vấn đề, không biết cuộc gặp riêng đó có thực hiện không, sau lại nghe ông Nguyên nhận được những văn bản mà anh đưa tôi xem, có lẽ mục đích là để cho ông Nguyên thấy cha đã có hậu thuẫn rồi, liệu hồn đấy. Thật ra những văn bản mà ông Nguyên nhận được như một trò hề mà đạo diễn vụng về, đã để lộ ra nhiều cái sai sót. Nếu cha Thịnh chỉ dựa vào ngần ấy chứng từ để đối phó với các anh thì chẳng khác gì “người chết đuối vớ được tàu lá chuối” .

Thật tình tôi chẳng muốn xen vào chuyện này, nhưng như lá thư trước tôi nói rồi, tôi quý anh vì là một tân tòng có những suy nghĩ chín chắn, thái độ ngay thẳng không hèn nhát, không bon chen luồn cúi. Những năm tháng trước đây, khi mới quen anh, tôi thấy anh sống âm thầm, chỉ biết đi làm về là lo dạy con học. Từ ngày anh tham gia công việc giáo họ anh tất bật hơn, nhưng tôi thấy anh tươi tỉnh hơn thì cũng mừng cho anh. Thế mà kể từ thuở trời đất nổi cơn gió bụi , sau cái biên bản 29-5-2009, chẳng phải khách má hồng anh cũng đã, đang và còn sẽ gặp nhiều nỗi truân chuyên. Tôi muốn gửi đến anh một vài suy nghĩ về tình trạng giáo xứ và cách xử sự của cha Thịnh. Tôi không đứng vào phe nào, tôi chẳng biết gì đến những chức vụ trong giáo xứ hay giáo hạt, thậm chí giáo phận. Ai làm chức gì thì mặc họ, tôi không hề quan tâm mà chỉ tôn trọng người có phẩm chất đạo đức, biết tôn trọng người khác, dám nói thẳng nói thật và nhận trách nhiệm về những gì mình nói, tôi chẳng dựa vào ai.

Khi thấy cha Thịnh có thái độ hằn học, gay gắt với anh rồi sau đó lại bật đèn xanh cho những người của cha gây áp lực tâm lý, hoạch hoẹ cái biên bản do anh viết , khiến anh lo lắng bỏ bê việc nhà để lo họp hành, gặp gỡ hầu đối phó. Tôi nhớ đến câu Chúa Giê-su nguyền rủa giới lãnh đạo dân Chúa thời ấy: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các ngươi rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các ngươi lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các ngươi”. (Mt 23,15). Đó là điều mà cha Thịnh và một số người xấu bụng, hẹp hòi đang làm cho anh đấy, anh tân tòng Hiệp ạ!

Trong xấp văn bản anh đưa tôi, có một lá thư gây chú ý cho tôi, đó là tờ “di chúc” của ông Đinh văn Sửu, tôi rất ngỡ ngàng về thái độ của ông này, ông ta lên đường đi định cư ở nước ngoài vào ngày 9-6-2009, trước đó vài ngày ông đã viết cái “di chúc” như một món quà tặng cha Thịnh, ông viết:

“Tuy không được cùng họp với các vị trên…Tôi rất đồng ý với ý kiến của các vị cựu chánh trương trên đây – và tôi đề nghị ông phó trương Hùng (ngoại vụ) trình lên cha chánh xứ cho triệu tập cuộc họp Đại hội đồng mục vụ để lấy ý kiến chung và sau đó có biện pháp mạnh mẽ với những kẻ ‘vu khống’ cố ý làm tổn thương danh dự người khác đồng thời làm rõ việc ông trùm Nguyên nói: ‘giáo dân ca thán rất nhiều: cha dùng chính sách ngu dân để cai quản giáo xứ”

…Không biết ông ta tự ý viết ra hay được gợi ý? Một cha sở quang minh chính đại sẽ không bao giờ sử dụng một bản “di chúc” hồ đồ như vậy, bởi vì cuộc họp chưa diễn ra, thì làm sao ông dám bạo gan đồng ý với ý kiến của người khác, vì khi phiên họp diễn ra, những trao đổi để làm rõ vấn đề sẽ tạo ra những tình huống mới khiến cho những ý kiến có thể phải thay đổi. Điều làm tôi ngạc nhiên là ông Sửu từ trước tới nay rất thân tình với tôi, gặp đâu là tay bắt mặt mừng. Hai năm trước, khi tôi viết lá thư góp ý cho cha Thịnh, một số người đã bị gọi vào để tra hỏi xem có liên quan đến việc làm của tôi không; dĩ nhiên ai cũng chối và thề sống thề chết là không hề tham dự hay xui giục tôi. Riêng ông Sửu đến khoe với tôi rằng: “Tôi mới làm cho ông cha xứ một mẻ, tôi nói rằng sao cha lại đi nghe mấy….(tôi không tiện viết ra cái từ ngữ của ông Sửu gọi mấy bà “ăng-ten” của cha, vì nó quá tục) mà nghi ngờ con. Anh Hoan đâu phải trẻ con đâu mà nghe con xúi, anh ta tự ý làm mà thôi…”(nguyên văn) .Từ đó mỗi lần gặp nhau uống cà phê ông Sửu thường có những nhận xét về cha Thịnh, tôi cũng chẳng để tâm lắm vì còn nhiều chuyện cần thiết hơn phải làm. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao có người bảo tôi đừng tin ông ta, và mới đây một anh bạn nói với tôi rằng: “ông Sửu là người không có lập trường, lúc thế này lúc thế khác”.

Tôi lại thấy có một bản viết tay không có tiêu đề, nhưng đọc lướt qua tôi nhận ra đó là bản tự kiểm của cái ông Hưởng nào đó, nội dung thì đại loại giống các bản khác vì cùng một nguồn mà, điều làm tôi buồn cười là trên đầu trang đề dòng chữ thật to: Giáo xứ An Lạc ngày 6-6-09, cuối bài lại cẩn thận ghi thêm một lần nữa: An Lạc ngày 05-6-09. Có lẽ tâm thần bất an, lẩn thẩn hay là ông viết ngược từ cuối lên. Một đoạn đáng chú ý trong bản tự kiểm là: ”Trước cha, con xin nhận khuyết điểm là đã (lỡ) ký vào tờ biên bản đấy khi chưa đọc kỹ nội dung, cứ thấy có ý kiến của mình là vội ký trong khi văn bản ý kiến của mình chỉ có một, chứ không phải toàn bộ. Thật là một sai sót khi “bút sa gà chết” con xin nhận khuyết điểm và xin rút kinh nghiệm kính mong cha tha thứ..”

Bó tay chấm com với một con người như ông Hưởng. Tôi không biết ông này nhưng chắc chắn ông phải lớn tuổi, ít là ngoài 50; thế mà trong lịch trình tu thân của Khổng Tử đã viết: “Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận…” ông Hưởng hẳn biết chứ, 30 tuổi đã có suy nghĩ chín chắn trước khi làm điều gì, chịu trách nhiệm về những hành vi của mình, tuổi như ông còn phải biết được mệnh trời nữa, hẳn ông phải biết chữ ký rất quan trọng, ông chưa đọc kỹ mà đã vội vàng ký, thử hỏi ngoài thương trường, một chữ ký có thể làm sạt nghiệp trắng tay, có khi còn đi tù mọt gông. Trong bản tự kiểm chính ông tự nhận mình chỉ là con “gà chết”, và trong bản tự kiểm của 3 ông đồng ký tên cũng nhắc lại như thế... Ôi đáng sợ quá, sao cha Thịnh lại sử dụng nhiều gà chết thế nhỉ? Không khéo cha lại mắc cúm H5N1 thì nguy lắm! Liệu bà con giáo dân có thể tín nhiệm một người đụng đâu ký đó mà giao cho những công việc của giáo họ không?

Sau ông Hưởng là ông Dần, cũng một dàn bài như nhau, chỉ khác là đánh số thứ tự y hệt một bài làm của một học sinh cấp 1, xin chép nguyên văn số: “5/ Con xin nhận khuyết điểm là đã ký nhưng không đọc cho rõ và suy cho tới nơi tới chốn để gây ra những chuyện không hay cho giáo xứ.”

Ông Quang cũng thế, chỉ thay đổi cách đánh số thứ tự bằng mẫu tự a,b,c… xin trích nguyên văn: “d/ đã có đọc và suy nghĩ không kỹ bản kiến nghị gởi ông chánh trương, mà đã ký vào văn bản để đau lòng đáng tiếc sảy ra”.( tôi viết đúng chữ s như trong bản văn )

Thật ra, chẳng phải ba ông Hưởng, Dần và Quang không đọc kỹ đâu, mà vì vốn các ông không ưa cũng không phục ông chánh trương Thuỵ bất tài, nên có cơ hội thì đẩy ông này văng luôn, không ngờ mang hoạ.

Một vài ý kiến của những ông còn lại như Cung, Đạt, Ất giáp gì đó thì chẳng có gì đáng bàn, cũng chỉ viết tào lao thiên địa theo sự chỉ đạo, hung hăng đòi cách chức ông Nguyên và những lời tâng bốc nhàm chán, rẻ tiền, như cha Thịnh là người lãnh đạo tối cao của giáo xứ, tài giỏi đạo đức. Thật ra, khi đọc tất cả các bản tường trình cũng như bản tự kiểm, từ lời văn, từ ngữ cho đến cách trình bày và nét chữ, tôi nhận thấy những người này rất xứng đáng được cha Thịnh trọng dụng, đó là tôi dựa vào nguyên tắc: Xem quả biết cây, chủ nào tớ nấy.

Sau cùng tôi nhận được bản kiến nghị thành lập ban thẩm tra tư cách đạo đức của một số cá nhân đã gây ra sự việc đáng tiếc tại giáo xứ. Nhìn sơ qua tôi thấy chẳng đáng đọc, vì nó chẳng hơn gì hai lá thư thiếu văn hoá do bà Mai và ông Tính viết cho tôi gần 2 năm trước. Người nhà ông Tính đã nói rõ và quả quyết người đứng sau ông Tính là ai, và gia đình muốn viết một lá thư xin lỗi tôi nhờ tôi đăng lên mạng, nhưng tôi gạt đi, vì chính ông Tính đã viết thư xin lỗi rồi.( Nếu muốn xem, xin tìm bằng GOOGLE với từ khoá trong ngoặc kép “Thư gửi Đức Hồng Y”).

Đây cũng chỉ là sản phẩm được chế biến, cóp nhặt, học đòi các bài viết của người này người khác, và một điều chắc chắn là có sự gợi ý sau một phiên họp nào đó. Anh Hiệp có vẻ bức xúc vì những lời ca tụng cha Thịnh là “vị chủ chăn nhân lành, có đầy đủ đạo đức, năng động và tài hoa…có tinh thần trách nhiệm và lòng hăng say cao độ..” Anh Hiệp an tâm đi, tôi dám chắc với anh rằng trong thâm tâm cha Thịnh không hề thích những lời sáo ngữ đó đâu, một người có một chút kiến thức cũng biết điều đó, huống chi cha Thịnh có một số vốn liếng kiến thức không phải nhỏ. Lời khen không đúng nơi đúng chỗ nó trở thành lố bịch khiến người được khen cảm thấy ngượng. Có một lời ca tụng rất ngộ nghĩnh ở ngay trang đầu: khen ngợi cha đã có 6 thánh lễ mỗi Chúa nhật hằng tuần để giáo dân tha hồ đi lễ. Lời ca tụng này đúng là “Khen người giàu lắm thóc” hoặc “Khen phò mã tốt áo”. Cha Thịnh chắc cũng bực mình lẩm bẩm: “(…)Tao là linh mục thì bổn phận phải làm lễ chứ còn làm gì, nếu cần thì 10 lễ cũng được, khen như thế thì khen làm (…) gì! về chỗ !”. Lại còn khen cha lập thêm ca đoàn, ban mục vụ giới trẻ ( trên thực tế ban này đã trở thành ban mạt vận giới trẻ rồi)… Trong mục nêu thành tích của cha Thịnh, có nói đến “nhà chờ Phục Sinh” đây thật là thành tích kinh doanh hài cốt. Sau khi xây xong nhà hài cốt, đúng hơn chỉ là một tầng của toà nhà 3,4 tầng, chỉ những ai đóng thêm 500 ngàn mới được chuyển lên, hơn một năm sau, còn rất nhiều người vì hoàn cảnh không có tiền, nên hài cốt của thân nhân vẫn bị bỏ lại nơi cũ là gầm gác đàn, như một cái kho chứa đồ cũ không đèn nến, mạng nhện giăng tứ phía, những kệ để các hũ, nham nhở, do những hũ được đem lên để lại khoảng trống, bụi bặm phủ kín. Có lẽ nhiều người kêu trách quá nên cha Thịnh đã cho đưa lên nhà chờ Phục sinh, nhưng xếp riêng một góc. Việc làm đó cho thấy cả những người đã chết cũng bị đối xử tệ, thiếu tình thương. Thử hỏi lương tâm mục tử của cha Thịnh ở đâu.

Tôi không muốn mất thì giờ với cái kiến nghị lá cải này, nhưng có một chi tiết tôi không thể bỏ qua, đó là lời bài xích việc đọc kinh của những người trong họ An Hoà khi khai mạc buổi họp: “…Thế mà mở đầu cuộc họp họ cũng dũng cảm đọc kinh Chúa Sáng Soi nhưng nội dung cuộc họp đã đi ngược lại lời kinh nguyện, đây là cuộc họp của ma quỷ, trên tinh thần hướng dẫn của satan….nhằm hướng tới đường lối của quỷ Luxiphe… ” (trích nguyên văn).

Những sự việc đang xảy ra tại giáo xứ chỉ là những bất đồng, cần sáng suốt để giải quyết một cách có văn hoá và đức tin. Giữa giáo họ này với giáo họ kia, giữa người này với người kia, dù không ưa nhau, dù ghét nhau cách mấy cũng vẫn là những con cái Chúa, lấy việc đọc kinh của người khác để chế diễu, khích bác là một hành vi thô bỉ, chỉ có kẻ vô đạo mới làm điều này. Ai dám can đảm nói tôi công chính hơn những người trong cuộc họp trên thì quả là điếc không sợ súng. Phải chăng chỉ có những người đề nghị thành lập ban thẩm tra đạo đức mới xứng đáng đọc kinh Chúa sáng soi! Quả là có men Pha-ri-sêu (x. Mt 16,5-12; Lc 12,1). Theo tôi cái nhóm kiến nghị này nên được gọi bằng cái tên đúng nhất là Quần chúng nhân dân tự phát.

Đang tính kết thúc lá thư thì lại nhận được bài phát biểu của ông Ngật. Đọc lướt qua một lần, tôi thấy cũng là một kiểu viết như các bài khác, cũng chỉ là những tư tưởng vá víu, luộm thuộm, câu nọ xọ câu kia. Tôi chỉ nhận xét 2 điểm thôi : Ông bảo rằng “Nếu không theo Chúa Chiên là con chiên lạc”. (Chúa chiên ở đây không phải là Chúa chiên Giêsu mà là chúa chiên Đòan Văn Thịnh!!!) Thế theo ông ai là con chiên lạc, và nếu có con chiên lạc thì chủ chiên phải làm gì? Theo Tin Mừng thì chủ chiên phải bỏ lại những chiên tốt lành mà đi tìm “cho kỳ được con chiên lạc”(x.Lc 15,4-7). Tìm cho kỳ được có nghĩa là phải cố gắng hết mình, không quản gian lao vất vả, tìm cho bằng được và vui mừng dẫn về hợp bầy. Trái lại, nếu chủ chiên nào thấy chiên đi lạc mà không thèm đi tìm, hoặc tìm chiếu lệ, tệ hơn là còn dùng mọi thủ đoạn, dùng những chiên “tốt”, để đẩy con chiên lạc vào chỗ chết, thì có còn là chủ chiên không, hay chỉ là một “con sói dữ tham mồi đội lốt chiên” (x.Mt 7,15) như Chúa Giê-su đã cảnh báo.

Ông Ngật kể lể về công lao của mình trong suốt 16 năm, toàn những chức to đùng, có ai dám phủ nhận đâu. Nhờ ông kể rành mạch như vậy mới thấy ông thật vĩ đại, chẳng những trong đạo mà còn cả ngoài đời nữa chứ, bái phục! Xin kể cho anh Hiệp một câu chuyện trong Tin Mừng Luca: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: trộm cắp, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.(kể công). Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi’. Tôi bảo cho các ông biết: người thu thuế này khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18, 9-14).

Ở trang 3, ông Ngật nói: “Giáo xứ An Lạc, từ thời cha Bao đã ví như một con thuyền…” ông ví khéo lắm, nhưng từ thời cha Bao ví như con thuyền, thế thì thời cha Thực, cha cố Nhạc, ông ví xứ An Lạc như cái con gì nhỉ? (xin người đọc đừng nghĩ bậy nhé). Đại loại là nội dung của bài phát biểu giống như con gà đang cố tập bay!

Anh Hiệp biết không, tôi và ông Ngật trước đây không hề nói chuyện, gặp nhau chỉ gật đầu chào thôi, nhưng sau khi tôi viết thư góp ý với cha Thịnh thì ông rất vui vẻ với tôi, trước mặt hay sau lưng đều khen tôi, ông nói: “Anh làm rất hay, phải có người nói lên sự thật như vậy, chúng tôi muốn nói lắm mà không nói được”. Từ đó tôi và ông trở nên thân thiện, tôi cũng quý mến ông. Thế mà nay trong bài phát biểu của ông, tôi lại thấy ông hết lời ca tụng cha Thịnh, đôi khi lố bịch. Tôi không ngạc nhiên, vì ông Ngật có thanh minh với một ông bạn già là : “…chúng ta không có hận thù ‘yêu nhau ta để trong lòng’. Nếu các ông đi họp, có lẽ các ông đóng vai của tôi thì cũng thế thôi …”. Như vậy, tôi hiểu đây là một màn trình diễn trong một vở kịch , mà bài phát biểu dài 4 trang A4 không phải do ông Ngật làm mà là một bài đã được làm sẵn rồi phát cho ông và biểu ông phải đọc, ông chỉ là vai diễn không hơn không kém.

Được biết, trước đó cha Thịnh đã cho gọi 5 cựu chánh trương vào, tuyên truyền là ông Nguyên, trùm họ An Hoà không tôn trọng các ông, phủ nhận công lao các ông, những ông này mù quáng nổi máu yêng hùng nhất loạt viết những kiến nghị mà nội dung là bênh vực cha Thịnh, sau đó hạch tội và lên án ông Nguyên là hỗn, vô ơn…đề nghị cha cách chức. Ông Ngật là một trong những con rối này được giao cho diễn vai phát biểu.

Anh Hiệp thân mến. Một trong những câu nói được lấy làm mục tiêu để đấu tố ông Nguyên là: 90% giáo dân không đồng ý với cách làm việc của giáo xứ nữa rồi (hiểu là cha sở). Tôi không quan tâm đến câu nói này có đúng hay không, đó là việc của các anh. Điều tôi muốn chia sẻ với anh là các cha đã từng là cha phó của cha Thịnh đều than phiền là cha Thịnh rất độc đoán , làm nhiều điều kỳ quái, có cha nói trực tiếp với tôi, có cha than phiền với cha bạn, rồi cha bạn của cha này quen tôi lại vô tình hỏi tôi xem có đúng như vậy không. Ngay cả đối với một cha già đáng kính, đang nghỉ hưu trong giáo xứ, cha Thịnh cũng chẳng nể nang gì, khi ngài chỉ yêu cầu cha chậm giờ lễ lại trong dịp lễ cưới của một người cháu, vì bị kẹt xe không đến kịp, cha Thịnh cứ lên làm lễ và bà Nguyệt lên đọc sách thánh, còn bà con hai họ vẫn đứng ngoài nhà thờ chờ cô dâu chú rể. Mọi nhân chứng vẫn còn. Qua những sự việc trên thì anh Hiệp thấy cha Thịnh có xứng đáng với những lời ca tụng tán dương trong xấp “Hồ sơ phong thánh” mà anh đưa cho tôi đọc không? Như vậy trong tương quan với linh mục trẻ cũng như già, cha Thịnh đều không thể hiện lời dạy của Công Đồng Va-ti-ca-nô II trong Sắc lệnh Chức vụ và đời sống linh mục:

“Những linh mục lớn tuổi hãy thực sự đón nhận các linh mục trẻ, như là những người em và hãy giúp đỡ họ trong những công tác, cũng như những gánh nặng đầu tiên của thừa tác vụ; hơn nữa các ngài nên cố gắng hiểu biết tâm trạng của họ, dù khác với tâm trạng mình, và theo dõi các công việc của họ với lòng nhân hậu. Cũng thế, các linh mục trẻ phải kính trọng tuổi tác và kinh nghiệm của các vị lớn tuổi cũng như phải bàn hỏi với các ngài về những vấn đề liên quan đến việc coi sóc các linh hồn và sẵn lòng cộng tác với các ngài. (Optatam Totius số 8b)

Đêm qua, tôi trằn trọc mãi, một phần tại ly cà-phê đá buổi tối, một phần vì bài viết chưa xong, bỗng tôi chợt nghĩ ngày mai là lễ thánh Gioan Baotixita, tôi nhớ đến cha cố GB Trần Ngũ Nhạc, bèn ngồi dậy đọc ít kinh và khấn với ngài:

“Con là một đứa con hèn kém nhất của cha, cũng nhiều tội lỗi, nhưng con thấy tình trạng giáo xứ quá tồi tệ, người ta chỉ biết theo đóm ăn tàn ca ngợi những lớp sơn hào nhoáng bên ngoài, con xin cha sống khôn thác thiêng phù hộ cho con nhìn ra những sai lầm trong những bản viết mà người anh em đưa cho con, để con có thể nói ra cho mọi người thấy cái giả dối sai lầm này, xin cha can thiệp để giáo xứ do cha thành lập, trong đó có con, cần chấm dứt cuộc chơi chẳng hay ho gì này. Nó bẩn thỉu và dối trá quá cha ạ! Cha đừng từ chối con cha nhé!”.

Sau đó tôi nằm một lát là ngủ, chắc cũng 3 giờ sáng. Mà quả thật, sáng nay tôi thấy tỉnh táo lạ thường và ngồi gõ máy liên tục vừa gõ vừa lật những bài viết, đọc lại từng bài, khám phá ra nhiều điều, nhờ vậy mới viết được đến đây. Để cám ơn cha cố Nhạc, tôi xin nói với anh đôi điều về ngài. Cha cố GB Trần Ngũ Nhạc mới thực sự là ân nhân vĩ đại nhất của gx An Lạc. Gia đình tôi chịu ơn ngài rất nhiều. Cha cố không có học vấn uyên bác, không có bằng cấp gì đặc biệt, tôi có khá nhiều dịp tâm sự, trao đổi khi ngài còn sống tại gx Bạch Lâm nên biết khá rõ. Nhưng ngài có đời sống đạo đức sâu xa, sống khó nghèo triệt để, ăn mặc giản dị, và chỉ có một mối bận tâm duy nhất là cứu rỗi các linh hồn. Khi còn coi sóc gx AL, tuy nóng nảy, nghiêm khắc, nhưng rất thương con chiên, mắng như tát nước rồi lại vỗ về an ủi. Đường lối mục vụ của ngài chu đáo, tôn trọng những người cộng tác, biết lắng nghe ý kiến của các viên chức. Cha cố Nhạc không chỉ lo mục vụ giáo xứ mà thôi, còn mở trường học để thanh thiếu niên khỏi phải đi học xa, về việc này cha cố cũng có những chủ trương hơi quá, là bắt phải theo học cho tới khi không có lớp, thật ra cha chỉ nghĩ làm thế là tốt, cũng phải thông cảm cho thế hệ lão thành đã có những suy nghĩ như vậy. Ngoài ra cha cố còn muốn gây dựng một đời sống ơn gọi, nên lập tu hội có nam có nữ. Tuy nhiên khách quan mà nói, thanh niên thời điếm đó chỉ vào tu hội để kiếm giấy hoãn dịch là chính, dĩ nhiên cũng có nhũng người thành tâm thiện chí. Dù sao đi nữa cũng phải nhìn nhận sức làm việc của cha cố Nhạc thật phi thường, nhưng phải thấy một điều rất quan trọng là chính Chúa hoạt động nơi cha, chứ cha cố có phải là người phi thường đâu. Làm linh mục phải dựa vào ơn Chúa, phải gắn bó với Chúa Giê-su thì mới bền vững, chứ chỉ dựa vào thế lực người đời, gắn bó vào tiền tài thì sớm muộn cũng tiêu tan:


“Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời,

thì hơn trông cậy ở người trần gian.

Cậy vào thần thế vua quan,

chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời”.

(Tv117,8-9)


Nói đến cha cố Nhạc, cũng nên nói đến một số vị chánh trương đã cộng tác đắc lực với cha cố trong công việc mục vụ. Tôi còn nhớ được một số vị chánh trương có tư cách đứng đắn, đạo đức (nhớ đâu nói đó không theo thứ tự trước sau) như chánh trương Thông, chánh trương Chi, chánh trương Dũng, chánh trương Tốn, và nổi bật hơn cả là chánh trương Thành. Tôi không bao giờ xưng hô là ông chánh, ông trương mà chỉ xưng Bác Thành, còn bác Thành gọi tôi là thằng Hoan xưng tao, hai bác cháu rất hợp “gu”, mỗi khi có dịp lễ lại bảo thằng Hoan về soạn cho tao bài để nói nhé, tôi lại hì hục soạn cho bác. Hai bác cháu thường gặp nhau nói đủ thứ chuyện, và học hỏi ở nhau nhiều điều, không bao giờ bác tỏ ra coi thường tôi ít tuổi, điều gì cần hỏi là bác hỏi. Vào thập niên 70, trong việc xây cất nhà thờ, bác Thành có công rất lớn, nhưng chẳng bao giờ bác kể công. Chẳng hạn như ý cha cố là muốn xoay lại hướng nhà thờ, dù có người phản đối. Bác Thành đã giàn xếp êm đẹp và nhà thờ đã có vị trí như ngày nay. Cha cố muốn sự đóng góp theo nhân danh, bác Thành can ngăn và cha cố đã nghe bác, kêu gọi đóng góp tuỳ lòng hảo tâm, tuỳ gia cảnh nên sự thành công thật mỹ mãn. Đó là tôi chỉ nêu ra vắn tắt thôi, chứ trong thực tế không đơn giản. Tôi mến bác Thành vì đời sống khá gương mẫu, tính thẳng thắn, cha nào làm sai bác nói thẳng. Làm chánh trương là phải có thực quyền, dĩ nhiên cũng phải có thực tài, nhất là tư cách đạo đức. Không có thực quyền, không có thực tài, thì chỉ làm chánh trương để lấy tiếng, như một bức tượng khoác lên bộ vó để những dịp lễ lăng xăng trong thánh đường chụp hình lưu niêm để khoe con cháu. Nếu tướng tá to to một chút thì còn coi được, chứ loắt choắt như con chuột nhắt thì con cháu muốn xem lại phải rọi kính lúp tìm ông mình lẫn trong đám lôm côm.

Còn rất nhiều điều có thể nói đến khi đọc những văn bản này, nhưng tôi chỉ nói đến một điều hết sức phi lý là hầu như bản kiến nghị nào, tường trình hay biên bản nào cũng đều có lời yêu cầu cha Thịnh cách chức người này người kia, và đều mang âm hưởng hằn học căm ghét, không còn một chút tình người. Tôi không biết cái tội danh của viên chức nào đó nặng đến đâu, nhưng trong bản Quy chế hội đồng mục vụ giáo xứ của TTGM ban hành năm 2002 thì có ghi rõ ở Điều 30. Bãi nhiệm. Khi một thành viên HĐMV giáo xứ phạm lỗi nặng, như bỏ phế nhiệm vụ, làm gương xấu về đời sống luân lý, gây chia rẽ, chống đối hoặc bất tuân mọi quyết định chung, linh mục chính xứ, sau đôi ba lần cảnh cáo không có kết quả và sau khi bàn bac với BTV, có thể bãi nhiệm thành viên ấy.

Tôi không muốn phân tích nhiều, chỉ hỏi liệu những người cứ hùng hổ một hai đòi cách chức có thấu triệt cái điều luật này không. Thường thì thực tế còn rộng rãi hơn trong văn bản, vì ít nhiều thì người có đạo còn chút tình bác ái. Thử hỏi trong bất kỳ tổ chức nào, đời cũng như đạo, cứ không vừa lòng nhau, hơi có xung khắc, bị chạm nọc một tí là nhao nhao đòi cách chức nhau thì chỉ có chơi với mọi. Nói vậy chứ mọi ngày nay cũng tiến bộ hơn xưa chắc cũng không đến nỗi thô bỉ như vậy. Mà tôi cũng không hình dung nổi chức là cái quái gì mà ghê gớm vậy, giá mà tôi có 10 cái chức ai xin tôi cho hết, khỏi cách. Trong Cựu Ước, có câu chuyện đại ý như sau: Gia-cóp đang nấu cháo, Ê-xau từ ngoài đồng về đói lả và mệt, bèn xin Gia-cóp một chén, Gia-cóp đòi Ê-xau đổi chức trưởng nam lấy bát cháo. Đang đói, Ê-xau chịu đổi liền và nói anh đang đói sắp chết đây, đổi thì đổi, chức với tước là cái đí gì, không bằng bát cháo đậu.(x. St 25,29-34).

Và cho đến giờ phút này, vẫn có một phụ nữ, tên là Tông, đang cầm một bản kiến nghị mới, đi khắp nơi trong xứ để xin chữ ký, mà nội dung vẫn chỉ là lên án họ An Hoà với lời lẽ thậm tệ. Điều đó cho thấy những người cuồng tín vẫn không muốn dừng lại. Bà này cách đây 2 năm đã nhờ một cô giáo lý viên đến nói với tôi: “cô Tông muốn nhờ anh Hoan viết hộ một lá thư góp ý với cha Thịnh, vì cô không chịu nổi ông cha này nữa”. Nhưng tôi không nhận lời. Kỳ này giáo xứ An Lạc tự nhiên nổi lên phong trào cái bang đi xin chữ ký, kể cũng vui.

Nói gì thì nói, tôi phải thành thật nói với anh Hiệp rằng: Thật đáng buồn cho tình trạng giáo xứ An Lạc hôm nay, không ai chịu nhận lỗi về mình. Nếu được đề nghị tôi xin mọi người, từ cha Thịnh, vui lòng dừng cuộc chơi lại. Nhưng chỉ có người duy nhất có khả năng làm cho cuộc chơi dừng lại là cha Thịnh. Cha Thịnh có can đảm làm một việc phi thường này như thể đánh dấu một khởi điểm cho một hành trình mới của sứ vụ linh mục không, đừng bao giờ cho là muộn, nhất là trong những ngày đầu của Năm Thánh linh mục. Nếu cha Thịnh nhất định ăn thua đủ với con chiên, thì tôi xin đặt vấn đề: Giả như cuối cùng cha Thịnh thắng và họ An Hoà đại bại, và rất có thể có người bị tổn thương không chỉ tinh thần mà có khi cả thân xác, những người đó dù xấu xa tội lỗi, dù hư hỏng hết mức thì cũng vẫn là giáo dân của cha. Cha Thịnh có dám nói rằng điều đó làm cha thoả mãn, hả dạ, đáng kiếp cho những kẻ dám chống lại cha! Nếu cha dám nghĩ như thế thì tôi cũng dám nói to lên rẳng cha không đáng là một ki-tô hữu chứ đừng nói là một mục tử. Một người cha bất nhân mới xúi con cái chà đạp nhau, mới bày mưu tính kế để trả đũa những đứa con không làm vừa lòng mình.

Trong những cuộc đấu tranh kiểu này, có những kẻ rất hăng, sẵn sàng đổ máu để bảo vệ cha, đừng vội nghĩ là người ấy có đức tin, có lòng đạo, yêu mến các linh mục. Lầm to, đó chỉ là do bản chất hung dữ, thích nổi danh, ham số má kiểu giang hồ. Nguyên do chỉ vì sự giáo dục đức tin quá tệ của các mục tử xấu. Đọc kỹ các sách Tin Mừng mới thấy rằng những kẻ nằng nặc đòi đóng đinh Chúa Giê-su vào thập giá cũng luôn tưởng họ làm thế là đúng, họ cũng nhân danh Thiên Chúa khi thực hiện việc giết Chúa Giê-su (x, Mt 26,63).


Hiệp ơi, lại nói dài quá rồi, chắc tôi phải ngưng, tư tưởng sắp cạn rồi. Nhưng mình nói thật lòng với anh, bản tính mình rất dị ứng với những cái bất công, giả dối , không nói thì thôi, nói thì nói đến nơi đến chốn. Một cha đọc bài của mình xong gửi mail cho mình bảo là: Cứ nói cho sướng miệng, chả đứa nào nó thèm nghe đâu, nhưng nếu có nhiều người nói, nói mãi thì cũng có ngày phải có kết quả thôi!”

Chào anh nhé, thư này anh toàn quyền phổ biến. Chúc anh luôn bình an, đừng quên bổn phận gia đình.

Viết xong lúc 18 giờ 00 ngày 23-6-2009,

Lễ vọng Thánh Gioan tẩy giả.

Phê-rô Nguyễn Tuấn Hoan