"Cả hai chúng tôi cùng chia sẻ tình thương cho những người nghèo khổ" (MTB, 174). Trong khi đó Mẹ Têrêsa trở thành người bạn thân thiết với bà thủ tướng Indira Gandhi. Bất cứ khi nào viết thư cho bà, Mẹ đều nhận được thư phúc đáp. Có lần bà thố lộ, "Gặp mẹ là nhận ra một con người khiêm tốn hết mực, là cảm nhận được sức mạnh nhân ái và cường lực của tình yêu."
Nhiều nguyên thủ quốc gia quen biết Mẹ như Tổng thống Mitterand của Pháp quốc, Thủ tướng Anh quốc, Tổng thống Hoa Kỳ Reagan và Bush, Quốc vương Bỉ, Quốc vương Bồ Đào Nha, Tổng thống Pakistan... Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ đã có mặt trên 120 quốc gia trên thế giới, tại những quốc gia được nhiều người biết tới như Hoa Kỳ, Canađa, Ý, Liên xô... cho tới những nơi người ta không ngờ như Ai Cập, Đông Bá Linh, Ái Nhĩ Lan, Hồng Kông, Haiti, Madagascar...
Học lực của một nữ tu như Mẹ cũng có giới hạn, dù Mẹ đã là giáo sư dậy sử địa tại trường trung học Loreto. Thế mà Mẹ lại lãnh được nhiều bằng tiến sĩ danh dự của những đại học nổi tiếng thế giới. Ba đại học Công giáo tặng văn bằng tiến sĩ cho Mẹ gồm có Catholic University of America tại Washingotn, D.C. vào năm 1971. Năm 1974 là St. Francis Xavier University tại Canada. Năm 1976 đến lượt Iona College tại New York. Sau đó tiếp đến các đại học không Công giáo như Temple University tại Pennsylvania vào năm 1979 và năm 1982 là đại học Harvard tại Massachusetts.
Bất ngờ nhất là vào năm 1977 Cambridge University tại Anh quốc cấp bằng tiến sĩ danh dự cho Mẹ. Đại học danh tiếng thế giới này khởi đầu vào thế kỷ XI. Đại học Cambridge là trung tâm thần học của cuộc Cải Cách Tôn giáo sau khi Giáo hội Anh quốc tách ra khỏi Roma. Trong diễn văn đáp từ được coi như một bài giảng, Mẹ Têrêsa đề cập về Thánh Thể, một môn thần học của Roma khác biệt với Anh Giáo, "Chúa Giêsu đã trao ban chính mình trọn vẹn. Ngài đã chết treo trên thập giá, nhưng trước khi tử nạn, Ngài đã biến hóa chính mình thành Bánh Đời Sống để thỏa mãn cơn đói khát tình yêu của chúng ta dành cho Ngài, 'Nếu anh em không ăn thịt và uống máu Thầy, anh em không thể bước vào cuộc sống vĩnh cửu được...'" Rồi Mẹ đi đến kết luận dành cho những ai đi theo Chúa Giêsu, "Và sự cao cả của tình yêu của Ngài đã biến Ngài thành một kẻ đói khát khi Ngài nói, 'Ta đã đói khát và các ngươi đã nuôi dưỡng Ta... và nếu các ngươi không nuôi dưỡng Ta, các ngươi không thể bước vào cõi vĩnh hằng'" (MTB,175).
Năm 1981 tại Bangladesh, một nước láng giềng của Ấn Độ gặp trận đại cuồng phong kéo vào bờ biển gây nên đại thảm kịch khiến 300.000 người chết. Lúc đó Mẹ Têrêsa vừa phục hồi sau trận đau tim và vừa xuất viện. Dầu bác sĩ bắt nghỉ ngơi, nhưng Mẹ quyết định phải lên đường tới hiện trường. Chỉ một thời gian ngắn sau khi Mẹ đột xuất tới vùng đất thiên tai này, các hãng truyền thông quốc tế tập trung vào người nữ tu nhỏ nhắn đang đi thăm các quang cảnh tàn phá. Đi bên Mẹ là Thủ tướng Bangladesh. Khi chiếc trực thăng phải hạ khẩn cấp vì thời tiết quá xấu, câu chuyện thăm viếng của Mẹ được tất cả các mạng lưới truyền thông đăng tải. Chính nhờ sự hiện diện của Mẹ tại những quang cảnh tàn phá này, thế giới thi đua nhau đến trợ giúp vùng thiên tai.
Tác giả Navin Chawla viết về tiểu sử Mẹ Têrêsa trong cuốn Mother Teresa, The Authorized Biography kể lại câu chuyện hi hữu về triều đình Ethiopia trước khi quốc vương Haile Selassie bị đảo chánh. Năm 1973 Mẹ Têrêsa thật vất vả mở địa điểm Thừa Sai Bác Ái tại đây, chính nhờ cuộc gặp mặt em gái Quốc vương và nhờ đó, bà đưa đường dẫn lối Mẹ vào gặp Quốc vương. Lần này Mẹ Têrêsa không lạc quan vì có nhiều tổ chức tôn giáo và xã hội đã cố công đến xin phục vụ nơi đây, nhưng đều thất bại.
Trước khi gặp mặt Quốc vương, Mẹ trải qua một cuộc phỏng vấn:
- Bà muốn chuyện gì nơi chính phủ?
- Không chuyện gì hết, Mẹ trả lời. Tôi chỉ đến cung ứng các Nữ tu làm việc cho những người nghèo khổ.
- Các nữ tu sẽ làm gì?
- Chúng tôi cống hiến việc phục vụ đầy từ tâm cho những người nghèo khổ nhất.
- Họ có những khả năng nào?
- Chúng tôi cố công đem tình yêu thương nhân ái và từ tâm cho những con người không được ai yêu thương và bị bỏ rơi.
- Các bà có muốn truyền giáo và cải đạo họ không?
- Công cuộc yêu thương của chúng tôi thể hiện tình yêu thương của Thiên Chúa đối với những ai đau khổ.
Và sau cùng Mẹ Têrêsa được vào gặp Quốc vương, câu trả lời của ông thật bất ngờ, "Tôi đã nghe về những công việc tốt lành bà làm. Tôi vui mừng bà đã đến đây. Được, bà hãy đem các nữ tu đến Ethiopia."
Một năm sau đó, Quốc vương 81 tuổi này bị đảo chánh và hoàng gia bị cầm tù và xử đối dã man. Haile Selassie chết trong tù. Mẹ Têrêsa là người duy nhất được vào thăm gia đình ông và sau đó giúp gia đình ông được thả ra.
Về phía Giáo hội Công giáo, vào năm 1986 Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến Ấn Độ và từ phi trường Ngài đến thẳng Kalighat, được coi như cái nôi của công việc truyền giáo bác ái của Mẹ Têrêsa. Nơi đây Ngài đi thăm từng người hấp hối, chúc phúc lành và giúp họ ăn uống. Ngài rung động thực sự với công cuộc của Mẹ.
Tại Roma, Ngài cung ứng cho Mẹ một dinh thự và vào mỗi Lễ Giáng Sinh Ngài thường đích thân đến phục vụ các người nghèo khổ tại đây. Được hỏi tại sao Ngài lại ưu đãi dòng Thừa Sai Bác Ái như thế, Ngài trả lời, "Làm sao cha từ chối Mẹ được?" Ngay tại thủ đô Công giáo, Mẹ được mời gọi mở một địa điểm trợ giúp những người nghèo khổ nhất tại xã hội tân tiến Tây Phương.
Tại nhiều nơi Giáo hoàng của chúng ta không đi tới được hoặc không thuận lợi phát biểu về những vấn đề nhậy cảm trong thế giới, Mẹ được ngài đề cử đi tới như một đại sứ lưu động. Lời nói của Mẹ dễ được mọi người tiếp nhận và ít người chống đối trước những vấn đề gay go như phá thai, ngừa thai, trợ tử... Trên khắp thế giới Mẹ là người duy nhất có thể đi tới bất cứ một quốc gia nào.
Danh tiếng của Mẹ tạo ra uy thế cho Mẹ trên thế giới, phải chăng xác định cho chúng ta rằng Mẹ là hiện thân của Chúa Kitô đang sống và hoạt động giữa trần thế hôm nay? Thần lực nơi Mẹ, chính là thần lực của Thánh Thần. Uy thế của Mẹ, chính là uy thế của Chúa Giêsu. Mẹ vẫn tự khẳng định mình chỉ là "cây viết chì nhỏ trong bàn tay Thiên Chúa." Thế giới dành nhiều cảm tình cho Công giáo và hàng triệu người tìm đến với Chúa Giêsu qua những hoạt động truyền giáo bác ái của Mẹ và các nữ tu cũng như các cộng sự viên (co-workers) trên khắp thế giới. Tất cả các Kitô hữu này mang trong mình đầy tràn Thánh Thể Chúa Kitô. Phải chăng Chúa Kitô không mong muốn tất cả các tín hữu Công giáo đi theo con đường truyền giáo bằng đem tình thương đi vào hành động? Phải chăng Mẹ Têrêsa và các nữ tu Thừa sai Bác Ái không là mẫu gương cho hàng giáo phẩm và giáo dân Công giáo đi theo?
Các giải thưởng
Mỗi lần Mẹ được trao một giải thưởng hay được tuyên dương trước công luận là một lần thế giá cũng như uy lực của Mẹ tăng thêm. Mẹ trở thành người phụ nữ uy thế nhất thế giới cũng chính nhờ các giải thưởng này. Có lần người ta muốn ghi tạc các giải thưởng đã trao tặng Mẹ, nhưng có điều kỳ lạ là một người phụ nữ dám đứng lên đương đầu như một mâu thuẫn với những gì thời đại chạy theo, Mẹ lại nhận được nhiều giải thưởng ngập đầu. Theo Navin Chawla - một người làm việc bên Mẹ cả mấy chục năm kể lại - chỉ sau mấy năm các nữ tu muốn lập một danh sách các giải thưởng, nhưng cuối cùng không hoàn thành đầy đủ được. Chỉ trong một năm, Mẹ nhận được khoảng hơn hai chục giải thưởng hoặc các bản tuyên dương. Có lẽ trên thế giới ít ai nhận được nhiều giải thưởng cũng như tuyên dương như Mẹ Têrêsa.
Sau mười bốn năm Mẹ khởi đầu công cuộc bác ái, tức là vào năm 1962, Mẹ được tuyên dương lần đầu tiên trong danh sách những người được vinh danh trong Ngày Cộng Hoà Ấn Độ (India's Republic Day) với danh hiệu là Padma Shri (Huy chương Hoa Sen). Đây là lần đầu tiên một người không sinh trưởng tại Ấn Độ nhận được giải thưởng cao quý này. Mẹ được mời tới Tân Đề Li nhận giải thưởng từ tay Tổng thống.
Bà Pandit, chị của Thủ tướng Nerhu mô tả khung cảnh buổi lễ, Một nữ tu ăn mặc bộ áo của giới bình danh quê mùa, một hình ảnh đầy khiêm nhu, bước lên sân khấu. Bà nhận lãnh giải thưởng như đang ôm đứa bé tật nguyền hay một người hấp hối trong vòng tay. Cả hội trường xúc động. Tổng thống ứa nước mắt. Sau đó, trên đường về nhà, tôi hỏi anh tôi, 'Khung cảnh không cảm kích sao?' Anh tôi trả lời, 'Anh không biết em rung cảm thế nào, còn riêng anh, anh rất khó cầm được nước mắt'" (MTB, 181). Sau đó mười năm, tức năm 1972, chính quyền Ấn Độ lại trao cho Mẹ giải thưởng mang tên thủ tướng Nerhu vì Mẹ đã tạo được những mối cảm thông quốc tế.
Nhiều thành phố tại Hoa Kỳ trao tặng Mẹ chiếc chìa khóa thành phố như Miami, Scranton (Pennsylvania), Toledo (Ohio), New York, Washington, Newark (New Jersey), San Francisco, San Jose. Nhiều tạp chí chọn Mẹ là "Người phụ nữ trong năm" theo các bảng thăm do hàng năm. Trong ba năm liền, tờ Housekeeping đề cử những phụ nữ nổi danh như Jackie Kennedy, Madonna, Nữ hoàng Elizabeth để bình bầu như "những phụ nữ đáng thán phục nhất," thì dư luận lại hết lời ca ngợi một người đàn bà già yếu trong bộ đồ nghèo hèn trị giá một đôla đối với một tờ báo đầy các trang giới thiệu và quảng cáo các áo quần sang trọng và hợp thời trang nhất. Trong lúc đó tại Thụy Diển và Ấn Độ người ta phát hành tem thơ mang hình Mẹ Têrêsa. Còn Hòa Lan đặt tên một loại hoa Tulip là Têrêsa.
Năm 1983, Nữ hoàng Elizabeth trao cho Mẹ giải thưởng cao quý nhất của Hoàng gia Anh quốc. Giải thưởng này được trao từ tay một người giầu có nhất thế giới tới tay một người phụ nữ khai báo chỉ sở hữu có ba bộ đồ nghèo hèn trị giá ba đôla. Trong buổi lễ, có mặt của Hoàng tử Charles đã một lần tới Calcutta thăm một cơ sở xã hội của Mẹ trước đó mấy năm và ông đầy thán phục các hoạt động của Mẹ. Vào dịp này, ông cùng bước vào ngôi nguyện đường nhỏ bé cầu nguyện với Mẹ. Công Chúa Diana cũng tới Ấn Độ muốn đến thăm Mẹ, nhưng lúc đó Mẹ mới xuất viện tại Mexicô vì chứng đau tim và đang ghé Rôma trên đường trở về Ấn Độ, công chúa liền ghé thăm Mẹ tại Roma trên đường trở về Anh quốc. Trong cuốn Diana, ngọn đèn trước gió, chúng tôi đã trình bầy sở dĩ công chúa Diana miệt mài với những hoạt động từ thiện bác ái tại nhiều nơi trên thế giới, chính vì công chúa đã được Mẹ Têrêsa khuyến khích dấn thân vào lãnh vực tốt đẹp này.
Nhân vật đầu tiên trong Hoàng gia tiếp xúc với Mẹ Têrêsa chính là hoàng tử Philip đích thân trao cho Mẹ giải thưởng Templeton Prize for Progress về tôn giáo vào năm 1973. Trong dịp này Hoàng tử ca tụng Mẹ, "một sức mạnh tuyệt diệu đã xâm nhập Mẹ Têrêsa." Hoàng tử nhận xét thấy đời sống của Mẹ đã thể hiện những gì mà con người chỉ có thể đạt được khi có một đức tin vững mạnh, "Không tiêu chuẩn nào sách ví được với những gì bà đã làm thật thiện hảo, và thế giới ngày nay thật vô vọng cần thiết một loại thiện hảo ấy, một thứ tình thương thực tiễn ấy."
Giải thưởng Templeton Prize qua mặt giải thưởng Nobel về giá trị khi đạt ra mục tiêu 'đẩy mạnh kiến thức về Thiên Chúa trong nhân loại tại khắp mọi nơi.' Trong 2000 nhân vật được đề cử từ tám mươi quốc gia, với chín vị giám khảo thuộc các tôn giáo lớn hoàn vũ, Mẹ Têrêsa được bình bầu với lời khen tặng, "Bà đã là một công cụ khuếch trương và đào sâu kiến thức về con người và tình yêu Thiên Chúa, hơn thế nữa, bà còn đẩy mạnh việc tìm kiếm phẩm chất của một cuộc sống phản ánh thiên linh" (MTB, 183-184).
Và như mọi người đều biết, một giải thưởng nổi tiếng và quen thuộc với mọi người nhất trên thế giới, đó là giải Nobel Hòa Bình. Mẹ đến Thụy Điển lãnh giải hòa bình quốc tế này vào năm 1979 nhân danh người nghèo khổ. Trong bốn ngày Mẹ đến Oslo lãnh giải, tất cả mọi chuyện đều thay đổi tại đây. Mẹ trở thành mục tiêu của truyền thông quốc tế theo đuổi. Hàng trăm nhiếp ảnh viên, các đội truyền hình, các phóng viên quốc tế đã đổ xô về đây săn tin tức.
Trước Quốc vương Thụy Điển, các nhà ngoại giao và các giới chức cao cấp cũng như đội ngũ truyền thông hùng hậu quốc tế hiện diện trong buổi lễ phát giải thưởng tại Đại học của Oslo, giáo sư John Sannes, Chủ tịch Ủy ban giải thưởng Nobel Hoà Bình xúc động phát biểu: "Dấu chứng của hoạt động của bà đã dánh dấu cho nhân cách và lòng tôn kính bà. Những kẻ đơn độc nhất, những ai tuyệt vọng nhất, những người túng quẫn đang hấp hối, những bệnh nhân phong cùi bị bỏ rơi nhất, đã nhận lãnh được lòng thương cảm nồng ấm của bà và các nữ tu với không một phân biệt đối xử, được xây dựng trên lòng tôn kính Chúa Kitô nơi con người...
Trong đôi mắt của bà, những ai là kẻ tiếp nhận cũng chính là người ban phát và ban phát nhiều nhất. Cho đi - cho đi một cái gì đó của chính mình - chính là trao tặng một niềm vui thực sự, và ai được phép cho đi, được ban phát, chính là người nhận lãnh được quà tặng cao quý nhất. Nơi đâu người khác nhìn như họ là các khách hàng, các thân chủ, bà nhìn họ là các bạn hữu đồng nghiệp, một mối giây liên hệ, không xây dựng trên trông đợi được biết ơn, nhưng trên hiểu biết và tôn trọng, và một giao tiếp đầy phong phú và ấm nồng tình người...
Đó là đời sống của Mẹ Têrêsa và các nữ tu - một đời sống khó nghèo nghiêm nhặt và những ngày tháng làm việc vất vả, một đời sống ít dành chỗ cho những niềm vui nào khác, nhưng chỉ cho một niềm vui quý giá nhất... Không còn cách thức nào diễn tả những ý định đã thúc đẩy đi tới quyết định của Uỷ ban Hòa bình Thụy Điển hơn là lời bình luận của ông Giám đốc Ngân hàng Thế giới, ông McNamara, khi ông tuyên bố, 'Mẹ Têrêsa xứng đáng giải Nobel Hòa Bình vì bà thúc đẩy hòa bình theo cách thức nền tảng nhất khi bà xác quyết việc bất khả vi phạm nhân phẩm của con người.'"
Trong phần đáp từ, trước tiên Mẹ Têrêsa theo cách thức thông dụng, Mẹ bắt đầu bằng cầu nguyện khi phát cho hơn tám trăm quan khách và các tham dự viên lời kinh Hòa bình bất hủ của Thánh Phanxicô Assisi và cùng nhau đứng lên đọc kinh nguyện này. Sau đó Mẹ giới thiệu lối nhìn của người nghèo khó, lòng vô vị kỷ và tinh thần chia sẻ của họ. Mẹ kể câu chuyện về một người đàn bà đã được Mẹ cứu vớt trên đường phố. Bà đang hấp hối và Mẹ đưa bà về ngôi hà hấp hối Kalighat và đích thân Mẹ săn sóc bà, "Tôi đã cống hiến tất cả tình yêu thương tôi có thể. Tôi đặt bà lên giường và bà nhoẻn một nụ cười thật tươi đẹp trên khuôn mặt. Bà nắm lấy tay tôi và bà chỉ thốt lên được một lời duy nhất, 'Cám ơn Mẹ' - và bà tắt thở."
Rồi Mẹ kể tiếp tục: "Tôi không thể không xét mình lại trước mặt bà và tôi tự hỏi giả như tôi rơi vào trường hợp của bà thì sao đây? Và câu trả lời của tôi thật đơn giản. Tôi hẳn đã cố gắng chú ý tới thân phận của tôi. Và tôi sẽ nói, 'Tôi đang đói khát, tôi đang hấp hối, tôi thật lạnh lẽo và thật đau đớn," hoặc một điều gì khác, nhưng bà đã cho nhiều, cho nhiều hơn, bà cho tôi tình yêu biết ơn của bà'" (MTB, 185-186). Và sau đó Mẹ phát biểu về nỗi nghèo khổ của Phương Tây: nghèo khổ vì ích kỷ, vì thu vén cho mình, vì đơn độc trên đống tiền bạc, vì hoang lạnh giữa đời sống nhung lụa, vì buông xuôi và tuyệt vọng giữa những chao đảo của cuộc đời.
Trở về Ấn Độ, chính phủ tổ chức tiếp đón Mẹ nồng hậu với cả đội kèn và buổi tiếp tân linh đình. Sau văn hào Rabindranath Tagore lãnh giải thưởng Nobel Văn chương vào năm 1913, giờ đây Mẹ là nhân vật thứ hai của Ấn Độ được lãnh giải thưởng quốc tế này. Báo chí loan tin trang nhất về hiện tượng cả "Calcutta khóc vì vui mừng." Mẹ Têrêsa vất vả phải trả lời hàng núi thơ từ, điện tín cũng như trả lời điện thoại và tránh né các cơ quan truyền thông bao vây ngôi nhà của Mẹ. Mẹ phải biến dạng suốt một tháng trời tĩnh tâm để các cơ quan truyền thông giải tán dần.
Chẳng bao lâu sau đó Mẹ lại được thông báo lãnh giải thưởng cao quý nhất của Ấn Độ, giải Bharat Ratna. Từ trước tới nay mới chỉ có mười bẩy nhân vật được lãnh giải thưởng này và Mẹ là người đầu tiên không sinh trưởng tại Ấn Độ đã lãnh giải. Mẹ đã sống hòa nhịp vào nếp sống của quốc gia này. Mẹ đã đặt tên Thánh Gandhi cho một trung tâm Phong Cùi, chính vì Mẹ đã nhận ra tâm hồn đầy nhân ái trong ông. Cả hai cùng chia sẻ với nhau tinh thần từ bỏ và lòng từ nhân. Ông là người theo Ấn Độ giáo đã tìm cách làm vững mạnh các giá trị nền tảng của Ấn Độ cũng như nền văn hóa đạo đức, và khi làm như thế, ông phát triển niềm tin cho mọi người. Và tiến xa hơn với lối truyền giáo cũ kỹ, đời sống và các hoạt động của Mẹ Têrêsa đã chứng minh được tầm vóc của đạo Công giáo. Cả hai người cùng theo đuổi một mục đích: đồng hóa chính mình với những người nghèo khổ nhất bằng cách trở thành nghèo khó như họ.
Mẹ không hoạt động chính trị như Thánh Gandi, nhưng Mẹ trở thành một nhân vật siêu chính trị khi hầu như tất cả các chính quyền thuộc các chủ nghĩa khác nhau đều tôn trọng lời Mẹ đề nghị. Không một nữ tu nào trong lịch sử Giáo hội đã thử nghiệm một lối hoạt động phi chính thống như thế. Theo Navin Chawla, "Dầu cho vất vả, Mẹ đã hoán chuyển nếp sống nghèo khó của Mẹ trở thành tự do và cấu tạo từ con người vô nghĩa của mình thành một lợi khí đầy sủng lực cho các hoạt động tôn giáo và xã hội. Trong khi đó Thánh Gandhi lại hình thành một loại vũ khí bất bạo động để đạt công lý. Ngài gọi đó là đường lối đấu tranh phải chấp nhận tự nguyện nhẫn nhục chịu khổ đau. Ngài biết rằng mình không thể đương đầu được với sức mạnh của Đế quốc với những vũ khí quy ước, do đó ngài phải khai triển loại vũ khí bất bạo động. Với loại vũ khí này, Ngài thúc đẩy những ai theo ngài phải chấp nhận cả những hành hạ thể xác với không một kháng cự cho tới khi những kẻ cường hào phải xấu hổ buông tay. Ở đây, cả Thánh Gandhi và Mẹ Têrêsa đều nhận thức được sức mạnh của khổ đau vô tội (power of innocent suffering).
Chúng ta hẳn còn nhớ nhiều năm trước đó, khi Mẹ Têrêsa khởi sự ngôi Nhà Hấp Hối, các tăng lữ của đền Kali khuấy động dân chúng địa phương khi tung ra tin đồn là một phụ nữ ngoại quốc đang cải đạo những người nghèo khổ theo Kitô giáo. Các thanh niên trai trẻ đến mang gạch đá chặn lối vào ngôi nhà. Rồi có nhiều gạch đá ném bể cửa sổ. Mẹ Têrêsa bước ra bên ngoài đương đầu với đám phá phách. Với hai bàn tay buông thõng xuống, Mẹ tiến thẳng đến đám hành hung và thách thức, "Hãy giết tôi đi nếu các người muốn, nhưng đừng khuấy động những người bên trong. Hãy để họ chết trong an bình." Sau một lúc lâu căng thẳng, nhóm hành hung dần dần tan hàng. Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta nhớ đến câu chuyện trong Tin Mừng khi đám đông giải giao đến Chúa Giêsu người phụ nữ bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Và Ngài bình thản bảo họ, "Ai trong các ông vô tội, hãy ném đá người phụ nữ này đi!" Và họ cũng lần lượt tan hàng.
Cả hai Thánh Gandhi và Mẹ Têrêsa cùng phối hợp một cách kỳ diệu khuynh hướng bảo thủ tôn giáo với chủ nghĩa thực dụng đích thực. Mẹ Têrêsa vẫn bảo thủ theo giáo thuyết của Giáo hội, đặc biệt về vấn đế phá thai và kế hoạch hóa gia đình. Có nhiều người phê phán Mẹ là "người vâng lời mù quáng" khi đối đầu với những làn gió của chủ nghĩa tự do. Có người lại mô tả Mẹ là một "nữ tu đế quốc." Thực tội nghiệp cho họ khi chưa nghiên cứu về Mẹ Têrêsa rành rọt. Không những không giảm thiểu niềm tin, nhưng hơn thế, Mẹ biết thích ứng niềm tin để giúp Mẹ vượt lên trên các hàng rào cản tôn giáo (transcend the barriers of religion).
Bharatiya Vidya Bhavan, một tổ chức được nhiều người Ấn Độ quý trọng, nhằm gầy dựng lại truyền thống văn hóa và các giá trị của Ấn Độ, đã dành cho Mẹ Têrêsa những tôn kính cao đẹp khi họ nhận định Mẹ như "một nhà truyền giáo bình lặng nhưng can trường, vào lúc nhận được linh ứng của Thiên Chúa, Mẹ đã tung ra sứ mệnh tình thương và thương cảm khi tìm cách làm thuyên giảm những khổ đau của hàng triệu người khắp thế giới - những người vô tên tuổi, không có tiếng nói, vô gia cư, bị đè nén và tước đoạt. Mẹ là một trong những tâm hồn họa hiếm đã vượt lên trên mọi hàng rào sắc tộc, tôn giáo, niềm tin và quốc gia. Mẹ không ngưỡng vọng quyền cai trị, cũng như danh vọng và ngay cả đến việc cứu độ mình. Mẹ thực sự là người hát rong của Thiên Chúa (minstrel of God) đã hoàn toàn hiến thân để xóa đi những khổ đau của nhân thế, cũng một cách thức như Mahatma Gandi" (MTB, 189-191).
Hơn là người hát rong của Thiên Chúa, Mẹ Têrêsa khuyên nhủ các nữ tu hãy trở thành các thánh nhân. Trước tiên "Các con hãy sống hạnh phúc (be happy) và biến hóa hạnh phúc thành một lợi điểm đặc biệt là trở thành dấu chứng hạnh phúc của Thiên Chúa giữa cộng đoàn của các con... Chúng ta phải trở thành 'dấu chứng của Chúa' về sự khó nghèo đích thực của Chúa Kitô. Vì thế các con hãy tỏa chiếu niềm vui vì mình là người nghèo khó, nhưng đừng nói đến chuyện nghèo khó. Đừng kể cho người khác nghe về đời sống vất vả nhưng chỉ nói về niềm vui sống với Chúa Kitô...
Muốn nên thánh, bước đầu tiên là các con phải mong muốn điều đó. Thánh Tôma nói, 'Thánh thiện hệ tại không gì khác hơn là một quyết định vững chắc - một hành động anh hùng của một tâm hồn phó thác hoàn toàn cho Chúa.' Bằng một ý chí hướng thượng, chúng ta yêu mến Chúa, chúng ta chọn lựa Ngài, chúng ta chạy đến Ngài, chúng ta đụng chạm Ngài và chúng ta sở hữu Ngài. Thánh Augustinô cũng nói thế, 'Ý chí thiện hảo biến hóa tôi thành hình ảnh Chúa và làm tôi trở nên giống Ngài.' Mức tiến bộ của mẹ trên đường thánh thiện tuỳ thuộc nơi Chúa và nơi mẹ - nơi ân sủng của Chúa và nơi ý chí của mẹ"
(SAV, 436-437).
Jean Maaloup xác quyết Mẹ Têrêxa là một người sống Tin Mừng thật trung thực và phản chiếu ánh sáng Chúa Kitô đến với mọi người chung quanh và trên khắp thế giới. Như vậy ơn gọi hay sứ mệnh của Mẹ không phải là một cán sự xã hội, nhưng chính là đánh thức tỉnhmọi người đi đến với tình yêu Chúa Kitô và đến nhiệm vụ nên thánh bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào hoặc cảnh ngộ nào (MTEW, 121).
Còn ai có những lời nhắn nhủ các nữ tu của mình hãy sống thánh thiện đầy chân tình và sống động hơn Mẹ Têrêsa, "Khi mỗi nữ tu trở thành một cộng tác viên (co-worker) của Chúa Kitô trong các hang cùng ngõ hẻm, mỗi người phải hiểu Thiên Chúa và dòng Thừa Sai Bác Ái trông đợi gì nơi mình. Hãy để Chúa Kitô tỏa chiếu và sống đời sống của Ngài trong mình và qua mình trong các khu nhà ổ chuột. Nhìn thấy mình, các người nghèo khổ được lôi kéo đến Chúa Kitô và mời Ngài đi vào căn nhà của họ và đời sống của họ. Hãy để những ai đau yếu và đau khổ tìm thấy nơi mình là một thiên thần nâng đỡ và ủi an. Hãy để những ai nhỏ bé ngoài đường phố bám víu vào mình vì mình nhắc nhớ cho các em về Ngài là một người bạn đường của những ai nhỏ bé...
Hãy tiếp tục ban phát Chúa Giêsu cho mọi người, không phải bằng lời nói, nhưng bằng gương sáng của các con, bằng đời sống say mê Chúa Giêsu, bằng tỏa chiếu sự thánh thiện của Ngài và lan tỏa hương thơm của tình yêu Ngài đến những nơi đâu các con đi tới. Hãy duy trì niềm vui của Chúa Giêsu như sức mạnh của các con. Hãy sống hạnh phúc và an bình. Hãy nhận lãnh bất cứ những gì Ngài ban cho - và hãy cho Ngài bất cứ những gì Ngài lấy đi với một nụ cười tươi tắn. Các con thuộc về Ngài. Các con hãy nói với Ngài:
'Con là của Chúa, và nếu như Chúa cắt xé con ra từng mảnh, mỗi mảnh cũng đều là của Chúa.' Hãy để Chúa Giêsu là tế vật và là thượng tế trong các con" (GG, 34-39).
Kết luận
Khi đề cập về Mẹ Têrêsa, một phụ nữ quyền thế nhất thế giới qua các ảnh hưởng Mẹ đã để lại dấu vết khắp nơi trên thế giới cũng như các giải thưởng Mẹ đã nhận lãnh được, chúng tôi không muốn khoe khoang Mẹ như một nhân vật đem lại thắng lợi vẻ vang cho Giáo hội Công giáo hoặc một tấm gương vượt quá khả năng noi theo của chúng ta, nhưng như một tấm gương để chúng ta cảm phục và từ đó rút ra cho mình hoặc Giáo hội mình những bài học thiết yếu cho cuộc sống và cho hoạt động tông đồ của chúng ta. Chúng ta không thể làm ngơ Mẹ Têrêsa như một bài học thiết thực Chúa và Giáo Hội mong đợi chúng ta khai triển trong chính đời sống cũng như hoạt động của chúng ta và của Giáo hội.
Như trong bài phiếm luận mới đây của tác giả Lung Linh viết vào đầu Mùa Chay 2006 trên tờ điện báo Tâm Linh Vào Đời và Trang nhà Tiengnoigiaodan.net về đề tài "Mùa Chay - mùa đánh trống bỏ dùi," chúng tôi cũng không muốn chỉ làm công việc của giới truyền thông là làm thức tỉnh độc giả về tấm gương sáng chói của Mẹ Têrêsa, rồi sau đó chính chúng tôi cũng như độc giả "đâu lại vào đó," tựa như ném một viên đá sỏi xuống mặt hồ đủ làm khoáng lên những vòng tròn lan dần rồi tan biến mất tăm hơi vào thành hồ. Nhưng hơn thế, chúng tôi cảm nhận như tiếng Chúa đang thôi thúc mỗi người hãy noi theo tấm gương của Mẹ là cuốn Tin Mừng Ngài ban cho thời đại hôm nay sống và hoạt động noi theo một cách thiết thực. Mẹ Têrêsa để lại một câu nói bất hủ, "Chúng ta được mời gọi không phải để thành công, nhưng để sống trung tín."
Và để kết thúc cho bài viết này, chúng tôi lặp lại ý nghĩ trung thực của Mẹ tỏ ra thờ ơ về các danh tiếng và các giải thưởng đối với cá nhân Mẹ, "Tôi không phải trung tâm điểm trong ngày được trao giải thưởng. Chính Chúa Kitô sử dụng tôi như công cụ của Ngài để nối kết tất cả mọi người hiện diện. Đây là điều tôi nhìn thấy đang xẩy ra: người ta đến để gặp nhau vì người ta cần đến Thiên Chúa. Tôi cảm thấy đem mọi người đến gặp gỡ nhau để nói về Thiên Chúa là một điều hết sức tuyệt diệu. Đó là một triển vọng mới cho thế giới" (SAV, 418) và đó cũng là niềm vui của chúng tôi khi trao tới quý độc giả bài viết này.